CÁC LỖI NGỤY BIỆN PHỔ BIẾN TRONG TƯ DUY (P.2)

Related Courses

CÁC LỖI NGỤY BIỆN PHỔ BIẾN TRONG TƯ DUY (P.2)

#2 Confirmation bias

Là “cha đẻ” của các nhận thức sai lầm vì nó làm cho chúng ta có xu hướng diễn giải những thông tin, dữ kiện mới sao cho “khớp” với các kinh nghiệm cũ, lý thuyết, niềm tin và định kiến của mình. Và một khi có sự “không khớp”, chúng ta sẽ có xu hướng loại bỏ những sự thật, dữ kiện đó (disconfirming evidence). Hoặc khi chúng ta tin vào điều gì đó, chúng ta sẽ chỉ tìm kiếm những bằng chứng ủng hộ (confirming evidence) cho điều đó và cố tình che giấu những sự thật khác.

Key takeaway: Cố gắng tìm kiếm những ngoại lệ, những bằng chứng “không khớp” trong suy nghĩ và lập luận của chúng ta để từ đó phản biện lại chính bản thân mình để tìm ra bản chất của sự việc.

Thiên kiến xác nhận (Confirmation Bias) là khuynh hướng con người ưa chuộng những thông tin mới tương tự với những niềm tin và giả thiết của chính họ. Gil muốn giảm cân, anh ấy chọn cho mình một chế độ ăn đặc biệt và kiểm tra cân nặng hàng ngày. Nếu cân nặng giảm thì anh ấy sẽ tự thưởng cho mình và xem chế độ ăn kiêng đó đã thành công, nếu anh ấy tăng cân thì Gil chỉ ghi nhận đó như là sự thay đổi thông thường và phớt lờ nó. Trong nhiều tháng, Gil vẫn cho là chế độ ăn kiêng đó của mình có hiệu quả mặc dù cân nặng của anh ấy vẫn giữ nguyên. Gil chính là nạn nhân của “thiên kiến xác nhận”.

Thiên kiến xác nhận là nguồn gốc của nhận thức sai lầm. Thiên kiến xác nhận sẽ tự động làm mờ đi những thông tin trái với những nhận thức vốn có của chúng ta. Do đó sự thật sẽ “không bao giờ xuất hiện bởi vì chúng bị phớt lờ”- Aldous Huxley. “Con người rất giỏi trong việc giải thích tất cả những thông tin mới để những kết luận trước đó của họ không bị ảnh hưởng” – Warren Buffett. Thiên kiến xác nhận được thấy nhiều nhất trong kinh doanh. Ví dụ, khi các nhà quản lý đưa ra một chiến lược mới, mọi người sẽ cảm thấy hào hứng vì bất kì dấu hiệu nào cho thấy chiến lược này sẽ thành công, tất cả những gì mà những người quản lý này tìm kiếm là những bằng chứng xác nhận điều đó. Trong khi những thay đổi đi ngược lại với những gì họ tìm kiếm thì lại được cho rằng là những ngoại lệ và “trường hợp đặc biệt”.

Vậy chúng ta có thể làm gì? Charles Darwin đã cố gắng loại bỏ những thiên kiến xác nhận của mình bằng cách: khi quan sát những quan điểm trái ngược lại với học thuyết của mình, Darwin cố gắng xem xét nó một cách nghiêm túc, thậm chí là ghi lại vì ông cho rằng não bộ con người sẽ nhanh chóng quên đi những ý kiến trái ngược. Khi Darwin muốn học thuyết của mình càng chính xác, ông càng phải nhìn nhận các ý kiến trái chiều.

Thí nghiệm sau sẽ cho thấy rằng bạn cần phải cố gắng “nghi ngờ” các giả định của mình hơn nữa. Một giáo sư đưa ra dãy số 2 – 4 – 6 và bảo sinh viên của mình tìm ra luật để có thể viết tiếp dãy số đó bằng cách mỗi lần họ đưa ra con số liền kề, giáo sư sẽ cho biết là có “đúng luật” hay “không đúng luật”. Sinh viên lần lượt đưa ra các con số 8, 10, 12, 14 và vị giáo sư luôn trả lời là “Đúng luật” nhưng khi họ đưa ra kết luận: “Luật của dãy số là thêm 2 đơn vị vào số cuối cùng sẽ ra số tiếp theo.” Và vị giáo sư trả lời rằng đó không phải là luật của dãy số. Một sinh viên đã dùng cách tiếp cận khác, anh ấy chọn con số -2 và đó cũng không phải luật của dãy số này, rồi sinh viên đó thêm vào số 7, vị giáo sư nói “Đúng luật”, sinh viên ấy đã dùng tất cả những con số như -24, 9, 43 và cuối cùng phát hiện ra luật của dãy số là “Số tiếp theo phải lớn hơn số liền kề trước đó” và luật chơi đúng là như vậy. Điều tạo nên sự khác biệt giữa sinh viên đó và phần còn lại là anh ta đã không chấp nhận giả thuyết ban đầu mà ai cũng đồng ý, ngược lại anh ta cố gắng tìm ra những “chứng cớ” để phản bác lại những suy luận đó.

Chúng ta bị bắt buộc hình thành những niềm tin về thế giới, về cuộc sống, nghề nghiệp của chúng ta,… Chúng ta phải đối mặt với hầu hết các giả định, những giả định đó càng không rõ ràng sẽ càng dễ dẫn bạn tới những thiên kiến xác nhận. Một khi bạn ủng hộ “Nhân chi sơ tính bản ác” hay “Nhân chi sơ tính bản thiện” thì bạn sẽ có xu hướng đưa ra những bằng chứng ủng hộ cho nhận định của mình.

Các nhà chiêm tinh học và toán học cũng hành xử theo cách tương tự. Họ cố gắng đưa ra các lời dự đoán rất mập mờ để bất cứ sự kiện nào cũng có thể ủng hộ cho các ý kiến đó: “Trong vài tuần tới bạn sẽ trải  qua chuyện buồn,” hoặc “Trong vòng 2 – 10 năm tới áp lực tỉ giá đô sẽ tăng cao” nhưng chính xác là khi nào? Điều gì sẽ khiến đồng đô la mất giá? Và tỉ giá đô mất giá so với vàng, yên, lúa mì hay giá trung bình của một cái hog-dog?

Niềm tin của các nhà tôn giáo và chiêm tinh học là một đại diện của thành kiến nhận thức. Ví dụ, những người thờ Chúa luôn tìm thấy bằng chứng cho sự tồn tại của Chúa, mặc dù anh ta không bao giờ thể hiện một cách công khai. Các ý kiến phản biện sẽ luôn bị gạt bỏ là bằng chứng của sức mạnh của thiên kiến xác nhận.

Các nhà báo về kinh doanh là người phải trải qua nhiều nhất những thiên kiến xác nhận. Thông thường, họ xây dựng các giả định, sau đó đưa ra hai hoặc ba mẩu bằng chứng và nghĩ rằng điều đó là quá đủ. Ví dụ:  Google rất thành công vì đã nuôi dưỡng văn hóa sáng tạo. Một khi ý tưởng này xuất hiện trên các mặt báo, nhà báo đã chứng thực nó bằng cách đề cập đến một vài công ty phát triển khác thúc đẩy việc sáng tạo. Hiếm khi người viết tìm kiếm bằng chứng ngược lại, trong trường hợp này sẽ là những doanh nghiệp đầy sáng tạo đang vật lộn để tồn tại, ngược lại, các công ty phát triển mạnh mẽ hoàn toàn không sáng tạo. Cả hai nhóm công ty đó có rất nhiều ví dụ, nhưng nhà báo lại bỏ qua nó, và nếu họ chỉ đề cập đến một mặt của vấn đề, câu chuyện sẽ không còn đáng tin cậy.

Những cuốn sách self-help và làm giàu nhanh chóng là những ví dụ khác của những câu chuyện phiến diện. Các tác giả thu thập rất nhiều bằng chứng để đưa ra những lý thuyết tầm thường nhất, chẳng hạn như “Thiền định là chìa khóa của hạnh phúc.” Bất kỳ độc giả nào tìm kiếm bằng chứng ngược lại đều vô ích vì cuốn sách này không đề cập đến con người vẫn có thể sống vui vẻ khi không thiền và có những người thiền nhưng vẫn không có được cuộc sống hạnh phúc.

Internet cũng là một “mảnh đất” khác của sự thiên kiến xác nhận. Để tìm kiếm thông tin, chúng ta duyệt qua rất nhiều trang web tin tức và blog mà quên rằng các trang ưa thích phản ánh các giá trị hiện có của chúng ta, có thể là một người theo chủ nghĩa tự do, hay bảo thủ hoặc trung lập. Hơn nữa, rất nhiều trang web hiện điều chỉnh nội dung theo sở thích cá nhân và lịch sử duyệt web, khiến cho những ý kiến mới và khác biệt biến mất hoàn toàn khỏi mục tìm kiếm. Chúng ta chắc chắn rơi vào cộng đồng của những người cùng chí hướng, củng cố thêm niềm tin của chúng ta và sự thiên kiến xác nhận.

Nhà phê bình văn học Arthur Quiller-Couch đã có một phương châm để tránh sự thiên kiến xác nhận này là: “Giết người mà bạn yêu quý”. Tức là bạn hãy thử viết ra niềm tin của chính mình, về mặt thế giới quan, đầu tư, hôn nhân, chăm sóc sức khỏe, chế độ ăn uống, chiến lược nghề nghiệp… để tìm những bằng chứng “chống lại” các niềm tin đó.

(Nguồn: "The Art Of Thinking Clearly" - Rolf Dobelli)

Related news

Làm Thế Nào Để Thảo Luận Các Ý Tưởng Một Cách Hiệu Quả

Làm Thế Nào Để Thảo Luận Các Ý Tưởng Một Cách Hiệu Quả

March 01, 2019
Các công ty thường gặp khó khăn khi có những sự thay đổi quá nhanh, nhưng khi được hỏi về thách thức lớn nhất thì các nhà lãnh đạo không bao giờ đề cập đến các vấn đề như “mở rộng cơ sở hạ tầng về công nghệ”, “thuê được các nhân viên có thể thích ứng nhanh” hoặc “khả năng kết nối với công ty mẹ”, mà họ lo lắng về việc có bao nhiêu cuộc cãi nhau giữa các nhân viên.
CÁC LỖI NGỤY BIỆN PHỔ BIẾN TRONG TƯ DUY (P.1)

CÁC LỖI NGỤY BIỆN PHỔ BIẾN TRONG TƯ DUY (P.1)

March 20, 2019
#1 Outcome bias: Never judge a decision by its outcome Không bao giờ đánh giá một quyết định dựa trên kết quả bởi vì luôn luôn có yếu tố ngẫu nhiên (may mắn) và các yếu tố bên ngoài, nằm ngoài tầm kiểm soát ảnh hưởng đến kết quả. Thay vào đó hãy nhìn vào quá trình, đánh giá những nỗ lực và công sức để tạo nên kết quả. Chính điều đó tạo nên giá trị và sự khác biệt, chứ không phải kết quả cuối cùng.
CÁC LỖI NGỤY BIỆN PHỔ BIẾN TRONG TƯ DUY (P.3)

CÁC LỖI NGỤY BIỆN PHỔ BIẾN TRONG TƯ DUY (P.3)

March 20, 2019
#3 Story bias/Narrative fallacy Tất cả chúng ta đều yêu thích các câu chuyện và các tình tiết gây cấn vì vậy chúng ta có xu hướng cố tình “thêm thắt” các tình tiết vào những sự kiện đơn lẻ và làm cho nó trở thành một câu chuyện có ý nghĩa, hấp dẫn hơn. Chúng ta dùng những câu chuyện để giải thích, để tạo ý nghĩa cho thế giới xung quanh mình, giải thích những điều đã xảy ra luôn dễ dàng hơn là dự đoán những gì sắp đến. Điều này nguy hiểm vì đôi khi nó làm lệch đi bản chất của sự việc, hoặc ngay cả “bóp méo sự thật”.